Bệnh sán lá gan là một bệnh rất phổ biến ở trâu, bò, dê, cừu ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á, châu Phi nóng ẩm. Ở nước ta, bệnh được phát hiện ở khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam. Tỷ lệ trâu, bò nhiễm bệnh ở miền núi là 30 - 35%. Vùng đồng bằng và trung du, trâu, bò nhiễm cao hơn: 40 - 70%. Các cơ sở chăn nuôi bò tập trung và bò sữa, tỷ lệ nhiễm 28 - 30%.

Bệnh giun đũa ở bê, nghé phân bố ở tất cả các nước trên thế giới. Các nước nhiệt đới ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, bê và nghé nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao và bị thiệt hại nhiều. Ở Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở bê, nghé nội, nghé của giống trâu sữa Murrah và bê của các giống bò sữa nhập nội: Holstein Friesian, Sind, Brahman... Ở các vùng sinh thái từ Bắc đến Nam. Ở các cơ sở nuôi bò sữa thuộc Hà Nội, Vĩnh Phúc, bê non nhiễm giun đũa từ 10 - 18%.

Bệnh tỵ thư là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn ở ngựa, lừa, la và các loài thú họ ngựa (Equidae), phân bố ở các nước châu Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Mianma, Pakixtan, Thái Lan, Lào, Ấn Độ, Campuchia, Việt Nam và một số nước châu Phi: Ai Cập, Ả Rập Xê Út, Nigêria.. Bệnh gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho việc chăn nuôi ngựa, lừa và có thể lây nhiễm sang người.

Bệnh nhiễm trùng huyết ở thủy cầm Riemerella anatipestifer (RA) là một bệnh truyền nhiễm ở các loài vịt, ngỗng, gà tây, nhiều loại chim nuôi và chim hoang dã. Bệnh có nhiều tên gọi khác nhau như: bệnh nhiễm trùng huyết ở vịt, hội chứng nhiễm trùng huyết ở thủy cầm, viêm thanh dịch truyền nhiễm. Riêng ở ngỗng, bệnh còn gọi là bệnh cúm ngỗng hoặc viêm tiết dịch và nhiễm trùng huyết ở ngỗng. Bệnh thường xảy ra ở dạng nhiễm trùng huyết cấp tính hoặc mạn tính với các đặc điểm như viêm ngoại tâm mạc có fibrin, viêm bề mặt gan, viêm túi khí, viêm vòi trứng có casein và viêm màng não.

Bệnh thối móng truyền nhiễm là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây ảnh hưởng đến phần biểu bì (da ở kẽ các ngón chân) của bò, dê và cừu. Bệnh tiến triển làm chi con vật bị què. Bệnh ít làm chết bò nhưng bò thường bị đau chân, thậm chí què chân, ăn kém, suy yếu dần, giảm cho sữa, cuối cùng sẽ phải loại thải, gây nhiều thiệt hại về kinh tế.

1. Bại liệt chânLợn nái chửa, nhất là sau khi đẻ một hai ngày hoặc một vài tuần bị liệt chân sau, đi lại rất khó khăn, có khi nằm liệt. Lợn vẫn ăn uống bình thường không sốt.

Tên thường gọi: Trám trắngTên khoa học: Canarium album RaeuschHọ: Trám - Burseraceae

Bệnh phù thũng thường xảy ra ở lợn từ 3 ngày đến 2 tuần sau khi cai sữa, song thỉnh thoảng xuất hiện ở lợn choai. Những lợn bị nhiễm bệnh phát triển triệu chứng thần kinh hoặc chết bất ngờ.

Trong khuôn khổ chương trình của dự án hợp tác với ACIAR (Ôxtrâylia), mới đây Viện Nghiên cứu Rau quả đã phối hợp với Hội làm vườn huyện Lục Ngạn triển khai mô hình ghép cải tạo giống hồng ăn quả tại 2 xã Thanh Hải và Tân Quang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Na thuộc loại quả phức nên hoa cũng phức hợp, nhiều nhụy cái gắn trên một cái trụ, ở phía dưới là nhiều nhị đực (có bao phấn), ngoài cùng là 3 cánh hoa.
